Trong những năm gần đây, một loại cáp quang mới, G.654E, đã được sử dụng trong một số tuyến đường trục dài và đạt được kết quả tốt. Vậy, cáp quang G.654E là gì? Liệu cáp quang G.654E có thay thế được cáp quang G.652D truyền thống?

Vào giữa những năm 1980, để đáp ứng yêu cầu truyền thông đường dài của cáp quang ngầm dưới biển, người ta đã phát triển một loại sợi quang đơn mode với lõi silica nguyên chất và bước sóng 1550 nm. Độ suy hao của nó gần bước sóng này thấp hơn 10% so với... Cáp quang G.652 ở trên.
Loại sợi quang này được định nghĩa là sợi G.654, và tên gọi của nó vào thời điểm đó là "sợi quang đơn mode suy hao tối thiểu với bước sóng 1550 nm".
Vào những năm 1990, công nghệ WDM bắt đầu được sử dụng trong các hệ thống truyền thông quang dưới nước. Công nghệ WDM cho phép truyền đồng thời hàng chục hoặc thậm chí hàng trăm kênh quang trên một sợi quang duy nhất, và với việc sử dụng bộ khuếch đại sợi quang, các tín hiệu quang đa bước sóng công suất cao được ghép vào một sợi duy nhất và kết hợp tại một giao diện nhỏ. Các tín hiệu này thể hiện các đặc tính phi tuyến tính.
Do tính chất phi tuyến của sợi quang, khi công suất quang đi vào sợi vượt quá một giá trị nhất định, hiệu suất truyền dẫn của hệ thống sẽ giảm dần khi công suất quang đi vào sợi tăng lên.
Hiệu ứng phi tuyến của sợi quang liên quan đến mật độ công suất quang của lõi sợi. Khi công suất quang đầu vào không đổi, việc tăng diện tích mặt cắt ngang hiệu dụng của sợi quang và giảm mật độ công suất quang của lõi sợi có thể làm giảm ảnh hưởng của hiệu ứng phi tuyến đến hiệu suất truyền dẫn. Do đó, sợi quang G.654 bắt đầu gây tranh cãi do diện tích mặt cắt ngang hiệu dụng tăng lên của nó.
Việc tăng diện tích hiệu dụng của sợi quang sẽ dẫn đến tăng bước sóng cắt, nhưng sự tăng bước sóng cắt này phải được kiểm soát để không ảnh hưởng đến việc sử dụng sợi quang trong băng tần C (1530nm~1565nm). Do đó, bước sóng cắt của sợi quang G.654 được đặt ở mức 1530nm.
Năm 2000, khi ITU sửa đổi tiêu chuẩn cáp quang G.654, họ đã đổi tên thành "cáp quang đơn mode cắt dịch chuyển bước sóng".
Cho đến nay, cáp quang G.654 được đặc trưng bởi độ suy hao thấp và diện tích hiệu dụng lớn. Sau đó, cáp quang G.654 được sử dụng cho truyền thông cáp ngầm dưới biển chủ yếu được tối ưu hóa về độ suy hao và diện tích hiệu dụng, và dần phát triển thành bốn phân loại phụ: A, B, C và D.
Thời gian đăng bài: 10/01/2023





